Tứ bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam gồm 4 vị thánh không bao giờ chết, tượng trưng cho những khát vọng cao đẹp của con người.
4 vị thánh bất tử (Tứ bất tử):
- Tản Viên Sơn Thánh (Sơn Tinh): Vị thần núi Tản Viên (Ba Vì), đứng đầu bộ tứ, đại diện cho ước vọng chinh phục tự nhiên, chiến thắng lũ lụt.
- Chử Đồng Tử (Chử Đạo Tổ): Tượng trưng cho lòng hiếu nghĩa, tình yêu bền chặt, sự giàu có và sự giao thoa giữa con người và thần linh.
- Phù Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng): Tượng trưng cho tinh thần kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ.
- Công chúa Liễu Hạnh (Mẫu Liễu Hạnh): Vị nữ thần đại diện cho đời sống tâm linh, trí tuệ, đức hạnh và sự thịnh vượng.
Tản Viên Sơn Thánh (Sơn Tinh)
Tản Viên Sơn Thánh, hay Sơn Tinh, là vị thần cai quản núi Ba Vì (núi Tản Viên), đứng đầu trong Tứ bất tử của tín ngưỡng Việt Nam, biểu tượng cho sức mạnh chống thiên tai. Ông được biết đến nhiều nhất qua truyền thuyết cưới Mỵ Nương, đánh bại Thủy Tinh. Nơi thờ chính tại cụm đền Hạ – Trung – Thượng (Ba Vì, Hà Nội).

- Vị trí trong tín ngưỡng: Là vị thần đứng đầu “Tứ bất tử”, đại diện cho sức mạnh quật cường chống lũ lụt, bảo vệ cuộc sống của người Việt.
- Gốc tích: Có hai thuyết chính:
- Thuyết phổ biến nhất: Là người trần (Nguyễn Tuấn), con của Lạc Long Quân – Âu Cơ, sinh tại Động Lăng Sương, Phú Thọ.
- Thuyết khác: Là con của Lạc Long Quân và Âu Cơ trong thần thoại.
- Truyền thuyết nổi tiếng (Sơn Tinh – Thủy Tinh): Sơn Tinh được Hùng Vương thứ 18 gả công chúa Mỵ Nương nhờ tài năng phi thường, đánh thắng Thủy Tinh (thần nước) trong cuộc chiến cầu hôn.
- Biểu tượng: Ông đại diện cho tư duy trị thủy, sức mạnh chinh phục thiên nhiên và lòng dũng cảm.
- Thờ cúng: Lễ hội chính diễn ra tại cụm di tích Đền Hạ, Trung, Thượng (Ba Vì) và đền Lăng Sương (Phú Thọ) vào khoảng 14 tháng Giêng hàng năm.
- Khía cạnh lịch sử: Ông còn được xem là người có thật, mang họ Nguyễn, từng hiện thân trước Cao Biền (nhà Đường)
Sơn Tinh không chỉ là một nhân vật huyền thoại mà là biểu tượng văn hóa lâu đời, gắn liền với sông Đà và vùng đất núi Tổ Ba Vì.
Chử Đồng Tử (Chử Đạo Tổ)
Chử Đồng Tử một nhân vật truyền thuyết, thần thoại và là một vị thánh nổi tiếng, sống ở thế kỷ thứ IV-III TCN. Về sau, ông thường được liệt vào một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng Việt Nam. Truyền thuyết về ông là một trong những truyền thuyết sớm nhất được ghi chép trong Lĩnh Nam chích quái với tên gọi Nhất Dạ Trạch.

Chử Đồng Tử còn được gọi là Chử Đạo Tổ, biểu tượng của tình yêu đôi lứa vượt lên trên tiền tài và địa vị, đại diện cho lòng can đảm và trí thông minh trong giao thương, với ước muốn dựng xây một xã hội ổn định, công bằng, cùng nghĩa cử cứu độ chúng sinh đảm bảo sự trường tồn của cộng đồng.
Nói về Chử Đồng Tử, chúng ta đều có thể biết đến thiên tình sử giữa Chử Đồng Tử và Công chúa Tiên Dung.
Công chúa Tiên Dung có lẽ là một trong những nàng công chúa có quá trình hiện thế lâu nhất trong các nàng công chúa Việt Nam mà lịch sử đến nay còn ghi lại được.
Công chúa Tiên Dung là con gái của vua Hùng Vương thứ 18 (nhiều truyền thuyết cho là vua Hùng Vương thứ 3). Nàng là vợ của Chử Đồng Tử, nay đã thành thần, hiện có đền thờ ở xã Đa Hòa (Hưng Yên).
Ngày xưa, văn học và tín ngưỡng song hành với nhau. Xung quanh tín ngưỡng thường có một số cổ tích, truyền thuyết lưu hành. Văn học thì phản ánh thực tại của xã hội. Một số truyện từ thời cổ truyền đến nay thường bị nhiều lớp bụi của thời gian che phủ, làm lu mờ những nét đặc biệt của thực tại đương thời, nhưng nếu phân tích kỹ, vẫn có thể thấy đôi chút dấu tích của xã hội vào thời đại mà truyện mới xuất hiện.
Chính vì lẽ đó mà chúng ta tìm hiểu về nàng công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử đã được ghi lại trong sách “Lĩnh Nam chích quái” – một trong những sách sưu tập cổ tích, truyền thuyết của dân tộc khá sớm ở Việt Nam.
Sách có nội dung như sau:
Vua Hùng Vương thứ 18 có cô con gái là Tiên Dung (dung mạo của tiên), vua rất nuông chiều. Năm Tiên Dung 18 tuổi, nhan sắc rất đẹp. Nhưng nàng tự nguyện không lấy chồng, chỉ thích phong cảnh thiên nhiên, đi du ngoạn khắp trong nước. Được cha cho phép, Tiên Dung sắm sửa thuyền, mỗi năm vào khoảng mùa Xuân, đi ra tận ngoài biển, có lúc vui quá quên về.
Hồi đó, ở làng Chử Xá (nay là xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) có người tên là Chử Cù Vân và con trai là Chử Đồng Tử (thằng bé Chử). Tình cha con rất thắm thiết. Vì một trận cháy nên cửa nhà sa sút, đồ vải chỉ còn mỗi một chiếc khố vải. Hai cha con thay phiên nhau mặc mỗi lần đi ra ngoài. Khi Chử Cù Vân bị bệnh nặng sắp mất, dặn con cứ chôn mình xác trần, giữ khố lại mà mặc. Nhưng Đồng Tử không đang tâm để cha thân trần, dùng chiếc khố độc nhất đó liệm cha lại mà chôn.
Từ đấy Đồng Tử năng đi câu cá về đêm, sáng mai lội nước ngập nửa người đến cạnh các thuyền để bán vài con cá mà chàng bắt được hoặc để xin ăn.
Không ngờ một bữa nọ, thuyền công chúa Tiên Dung đi đến vùng đó. Chử Đồng Tử nghe tiếng chuông trống, đàn sáo lại thêm thấy nghi trượng cờ quạt lấy làm hoảng sợ, bèn chạy vào bụi lau ở bãi bới cát thành một cái hố, giấu mình xuống đó và phủ cát lên.
Vừa lúc, Tiên Dung rời thuyền, lên đi dạo chơi trên bãi. Thấy cảnh tươi đẹp, nàng đến bên mô cát để ngắm cảnh rõ hơn. Lại thấy nơi này sạch sẽ, nàng quyết định tắm mát. Và tình cờ nàng còn sai người hầu quây màn ở bụi lau để làm chỗ cho mình tắm, đúng vào chỗ Đồng Tử vùi mình. Khi Tiên Dung giội nước, cát trôi đi để lộ thân hình trần truồng cường tráng của anh chàng. Công chúa hoảng hốt, xấu hổ, lo sợ hỏi rằng: “Ngươi là ai, sao ở chốn này?”. Chử Đồng Tử kể lại với nàng về cuộc đời khốn khổ của mình.
Nghe xong công chúa cảm động bảo: “Ta đã nguyện không lấy chồng. Nay bỗng nhiên gặp anh như thế này, chắc có trời xui khiến. Anh hãy dậy tắm rửa đi!”. Đoạn Tiên Dung cho áo quần mặc và cùng xuống thuyền mở tiệc vui. Người trong thuyền hiểu chuyện, cho là một cuộc gặp gỡ lạ lùng. Tiên Dung đòi kết làm vợ chồng. Đồng Tử chối từ không dám chấp nhận, nhưng nàng nói: “Đây là do trời tác hợp sao anh lại từ chối”. Và rồi hôn lễ cử hành ngay trên sông.
Tin về đến vua, Hùng Vương rất giận, nói với mọi người rằng: “Con gái ta không kể danh tiết, hạ giá với kẻ nghèo hèn, còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa. Từ nay mặc kệ nó muốn đi đâu thì đi, không cho về cung”. Nghe tin, Tiên Dung sợ không dám về, bèn cùng chồng mở chợ sinh nhai về nghề buôn bán, đổi chác trong dân gian. Lâu dần thành chợ lớn – là chợ Hà Thám – có phố xá, khách buôn nước ngoài lui tới giao dịch ngày càng thịnh.
Một hôm có khách buôn lớn rủ Tiên Dung đem vàng cùng y xuất dương mua hàng đem về bán sẽ có lãi to. Tiên Dung bảo chồng rằng: “Chúng ta tác hợp do trời định, cơm áo cũng do trời cho. Vậy việc này chúng ta nên làm”.
Đồng Tử bèn cùng khách buôn nọ ra đi. Đến một hòn núi giữa biển tên gọi là Quỳnh Viên, thuyền dừng lại lấy nước ngọt. Đồng Tử vui chân trèo lên một cái am nhỏ trên núi, gặp một sư trẻ tên là Phật Quang (ánh sáng Phật). Sau cuộc hội ngộ, Đồng Tử nhận lời Phật Quang, giao vàng cho khách buôn rồi ở lại học đạo.
Khi thuyền trở lại, đón Đồng Tử về đất liền. Nhà sư Phật Quang tặng Đồng Tử một cái gậy, một cái nón và bảo: “Linh thông đều ở đấy cả”.
Về đến nhà, Đồng Tử truyền đạo Phật lại cho vợ. Tiên Dung giác ngộ và bỏ việc buôn bán cùng chồng vân du tìm thầy học đạo(1).
Trở lại câu chuyện về vợ chồng Chử Đồng Tử – Tiên Dung: Một hôm, trời đã tối mà chưa gặp chỗ trú chân, họ nghỉ lại và cắm gậy che nón rồi nằm ở dưới. Vào khoảng canh ba, tự nhiên tại khoảng đất ấy nổi lên thành quách nhà cửa, nào lâu đài bằng châu ngọc, nào kho tàng đầy của cải, nào màn che chiếu trải không thiếu thứ gì. Rồi còn tiên đồng ngọc nữ, tướng sĩ lính hầu xúm xít quanh vợ chồng Tiên Dung. Sáng hôm sau, nhân dân quanh vùng đều kinh hãi, ai nấy cũng mang hương hoa thực phẩm đến xin làm tôi. Họ vào thành thấy văn võ bách quan, lính tráng tấp nập như một quốc gia riêng biệt.
Hùng Vương lần này nghe tin báo cho là con gái làm loạn vội phái quân đi đánh. Quan quân sắp đến, bộ hạ Tiên Dung xin đem quân chống cự, nhưng nàng cười và bảo: “Tất cả mọi việc do trời chứ không phải ta. Ta đâu dám cự lại phụ vương. Sống và chết đều nhờ trời. Ta có bị phụ vương giết cũng không dám oán hận”.
Trời đã tối, đại quân Hùng Vương chưa kịp tiến công, bèn dừng lại đóng ở bãi Tự nhiên, còn cách thành địch một con sông lớn. Đến nửa đêm bỗng có một trận bão làm nổi sóng, nhổ cây, quan quân đại loạn. Chỉ trong chốc lát, thành quách nhà cửa và bộ hạ của Tiên Dung đều bay lên trời. Đến sáng hôm sau, mọi người đều kinh ngạc thấy chỗ đó chỉ là một cái đầm lớn. Họ lập đền thờ thường năm cúng tế, gọi đầm ấy là đầm Một đêm (Nhất Dạ Trạch).
Phù Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng)
Thánh Gióng, hiệu là Phù Đổng Thiên Vương hay Sóc Thiên vương, là một nhân vật trong truyền thuyết Việt Nam, một trong bốn vị thánh mà người Việt gọi là Tứ bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Ông được xem là tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ.

Vào thời Hùng Vương, có một người đàn bà đã nhiều tuổi nhưng sống một mình và không có con. Một sáng nọ bà đi thăm nương, bỗng nhìn thấy một vế chân giẫm nát cả mấy luống cà. Bà kêu lên:
– Ôi bàn chân ai mà to thế này!
Bỗng bà cảm thấy rùng mình khi đưa bàn chân ướm thử vào dấu chân lạ. Sau khi ướm thử vào dấu chân lạ, bà có mang. Đủ tháng đủ ngày bà sinh được một đứa con trai bụ bẫm. Bà đặt tên là Gióng.
Nhưng thằng bé lên 3 tuổi rồi mà vẫn nằm ngửa đòi ăn, không biết ngồi, không biết lẫy, cũng không biết nói hay cười.
Ngày ấy, giặc Ân kéo vào cướp nước ta. Giặc Ân rất hung tàn, cầm đầu là một tên tướng gọi là Ân vương. Chúng đi đến đâu là đốt nhà, phá cửa, giết người cướp của đến đấy. Hùng Vương nhiều lần xuất trận nhưng không đánh nổi lại chúng. Vua hùng lấy làm lo lắng vội phái sứ giả đi khắp nơi tìm tướng tài cứu nước.
Một hôm, sứ giả đi đến làng của chú bé Gióng. Gióng nghe loa thấy việc nhà Vua đang tìm người tài đánh giặc cứu nước, mẹ Gióng đang ru con liền đùa rằng:
– Con ơi! Con của mẹ chậm đi chậm nói thì biết bao giờ mới đi đánh giặc giữ nước được đây!
Không ngờ, Gióng nhìn mẹ mở miệng cất thành tiếng:
– Mẹ cho gọi sứ giả vào đây cho con!
Nói xong lại im bặt. Bà mẹ vừa mừng, vừa sợ vội kể chuyện với xóm giềng. Mọi người tới nhà ai nấy cũng cho là một sự lạ. Sau cùng, 1 người nói:
– Ta cứ đi mời sứ giả đến xem thử nó muốn cái gì.
Khi sứ giả của nhà Vua bước vào, nhìn thấy cậu bé Gióng liền nói:
– Mày là đứa trẻ lên ba mới học nói, mày định mời ta đến đây để làm gì?
Gióng trả lời đầy chững chạc:
– Về bảo với nhà Vua rèn cho ta một con ngựa sắt, một thanh gươm sắt, một áo giáp sắt và một nón sắt, ta sẽ đánh đuổi giặc giữ cho.
Ai nấy nghe xong đều khôn xiết lạ lùng, cho rằng thần nhân xuất hiện. Sứ giả lập tức phi ngựa về tâu với nhà Vua. Nghe nói, Hùng Vương mừng rỡ, ra lệnh cho thợ rèn gom tất cả sắt lại rèn ngựa, gươm, áo giáp và nón như lời xin của cậu bé. Khi mọi thứ rèn xong nặng không thể tưởng tượng nổi. Hàng chục người mó vào thanh gươm mà không nhúc nhích. Hùng Vương phải cho hàng ngàn quân sĩ tìm mọi cách để mang đến cho cậu bé Gióng.
Khi được tin quân sĩ khiêng ngựa sắt sắp đến làng, mẹ Gióng sợ hãi chạy về bảo với con:
– Con ơi! Việc nhà vua đâu phải là chuyện chơi. Hiện quân sĩ đang kéo đến ầm ầm ngoài bãi rồi, biết làm thế nào bây giờ con?
Nghe nói thế, Gióng vụt đứng dậy và nói:
– Việc đánh giặc thì mẹ đừng lo. Nhưng mẹ phải cho con ăn thật nhiều mới được!
Bà mẹ vội thổi cơm cho con ăn, nhưng cứ nấu lên được nồi nào Gióng ăn hết ngay nồi ấy. Mỗi lần ăn một nồi cơm thì Gióng lại lớn thêm được một ít và đòi ăn thêm. Mẹ càng cho con ăn thì con lại càng lớn nhanh như thổi, bỗng chốc đã trở thành một cậu thanh niên vô cùng khỏe mạnh.
Hết gạo, bà mẹ kêu gọi hàng xóm láng giềng. Cả làng nô nức đem gạo khoai, trâu, rượu, hoa quả, bánh trái mang đến đầy một sân. Nhưng đưa đến bao nhiêu thì Gióng ăn vợi hết bấy nhiêu, mà vẫn đòi ăn không nghỉ.
Sau đó, Gióng lại bảo tiếp:
– Mẹ phải kiếm vải cho con mặc.
Người ta lại đua nhau mang vải lụa tới may áo quần cho Gióng mặc. Nhưng thân thể Gióng lớn vượt trội một cách kỳ lạ, áo quần vừa may xong đã thấy chật, thấy ngắn, lại phải mang vải lụa tới để chắp nối thêm. Không mấy chốc đầu Gióng đã chạm đến nóc nhà. Ai nấy chưa hết kinh ngạc thì vừa lúc quân sĩ đã hì hục khiêng được ngựa, gươm, áo giáp và nón sắt tới. Gióng bước ra khỏi nhà vươn vai một cái, người bỗng cao to sừng sững, chân dài hơn trượng, hét lên một tiếng như tiếng sấm:
– Ta là tướng nhà Trời!
Nói rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên loang loáng như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết chừng ấy. Ngựa thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng.
Nhưng tướng giặc Ân vương vẫn còn cố gào thét hô quân xáp tới, Gióng càng đánh càng khỏe, thây giặc nằm ngổn ngang. Bỗng chốc gươm gãy, Gióng không chút bối rối, thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc đang cố gắng trụ lại theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc quân giặc đã tẩu tán bỏ chạy khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác. Bọn tàn binh giặc lạy lục xin hàng. Quân đội của Hùng Vương cũng như dân các làng chỉ còn việc xông ra trói chúng lại. Không đầy một buổi, Gióng đã trừ xong nạn cho nước nhà. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời.
Sau khi thắng trận, để nhớ ơn người anh hùng, vua Hùng sai lập đền thờ Thánh Gióng ở làng quê, phong làm Phù Đổng thiên vương.
Ngày nay chúng ta còn thấy vẫn còn những dấu vết như dãy ao tròn nối nhau kéo dài suốt từ Kim Anh, Đa Phúc cho đến Sóc Sơn, người ta bảo đó là những vết chân ngựa của Thánh Gióng. Khu rừng bị ngựa sắt phun lửa thiêu cháy nay còn mang cái tên là làng Cháy. Những cây tre mà Gióng đã nhổ quật vào giặc bị lửa đốt màu xanh ngả thành màu vàng và có những vết cháy lốm đốm, ngày nay giống ấy vẫn còn, người ta gọi là tre là ngà (hay đằng ngà).
Công chúa Liễu Hạnh (Mẫu Liễu Hạnh)
Thánh Mẫu Liễu Hạnh hay Liễu Hạnh công chúa hay Mẫu Đệ Nhị Địa Tiên là một trong những vị Thánh quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh, Mẫu Liễu Hạnh hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Mẫu Liễu. Một số đền thờ tôn vinh bà là Mẫu Thượng Thiên

Theo sự tích thì Thánh Mẫu Liễu Hạnh thường hay giáng thế cứu giúp nhân dân, hỗ trợ phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, giao thương buôn bán… Dân gian thường lưu truyền lại những lần giáng thế đó của bà, trong đó có ba lần cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Sự tích kể lại rằng, lần thứ nhất Thánh Mẫu Liễu Hạnh đầu thai xuống làm con của một cặp vợ chồng đã có tuổi ở Nam Định, là những người hiền lành thân thiện nhưng đã quá 40 vẫn chưa có nổi một mụn con. Tới một ngày rằm tháng hai, đôi vợ chồng được Ngọc Hoàng báo mộng rằng có con gái thứ của mình tới đầu thai làm con trong nhà của họ.
Ngay sau đó bà vợ đã mang thai và sinh được một cô con gái được đặt tên là Phạm Tiên Nga vào ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu. Hiện thân của Thánh Mẫu rất yêu thương cha mẹ, đã nhiều lần từ chối chuyện hôn nhân của bản thân mình chỉ vì muốn chăm sóc cha mẹ già. Sau khi cha mẹ qua đời, hoàn thành trách nhiệm và bổn phận người con của mình. Nàng Tiên Nga đã đi khắp nơi để hỗ trợ, cứu giúp dân lành. Tới cuối cùng bà mất vào năm 1473 dưới thời vua Lê Thánh Tông.
Lần thứ hai: Lần thứ hai Thánh Mẫu chuyển thế làm con gái của nhà một người họ Lê người Nam Định và được đặt tên là Lê Giáng Tiên.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh bén duyên và lấy tiên sinh Trần Đào Lang và sinh hạ được 2 người con, một trái một gái tên là Nhân và Hòa. Tới năm Đinh Sửu 1577 khi bà được 21 tuổi thì bỗng dưng qua đời dù không đau ốm hay bệnh tật gì.
Lần thứ ba: Dân gian tin rằng do hai lần giáng thế trước của bà chưa trọn vẹn và vẫn còn lưu luyến nghĩa tình nên vào năm Canh Dần 1650 tại làng Tây Mỗ, Thanh Hóa bà đã hạ thế lần thứ ba bà ngày 10 tháng 10. Sau đó bà đã kết duyên với tiên sinh Mai Thanh Lâm (là chuyển kiếp của tiên sinh Trần Đào Lang).
Thời bấy giờ nhân gian loạn lạc, chúa Trịnh Nguyễn tranh giành, đời sống nhân dân lầm than cực khổ nên Thánh Mẫu Liễu Hạnh lại ra sức tương trợ, cứu độ dân lành và trừng trị kẻ xấu. Nên sau đó bà đã được lập đền thờ riêng tại vùng đất này.



