Tiểu sử Đại tướng Chu Huy Mân

Tiểu sử Đại tướng Chu Huy Mân

Đại tướng Chu Huy Mân (1913-2006), tên khai sinh Chu Văn Điều, là một vị tướng tài ba và nhà chính trị lỗi lạc của Quân đội nhân dân Việt Nam, từng giữ các chức vụ quan trọng như Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Ông nổi bật trong chiến dịch Điện Biên Phủ (Chính ủy Đại đoàn 316) và các chiến dịch lớn khác, được thăng cấp hàm vượt bậc và là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng.

Sự nghiệp nổi bật:

  • Giai đoạn đầu: Gia nhập Đảng sớm (17 tuổi), hoạt động cách mạng, bị địch bắt và tù đày nhiều lần.
  • Kháng chiến chống Pháp: Lãnh đạo Đại đoàn 316, trực tiếp chỉ huy trận mở màn Điện Biên Phủ tại Him Lam.
  • Kháng chiến chống Mỹ: Tư lệnh Quân khu Tây Bắc, Chính ủy các chiến dịch Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng, là chỗ dựa tin cậy ở Quân khu 5.
  • Sau 1975: Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (1977), Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (1981).
  • Vinh danh: Được phong hàm Thiếu tướng (1958), Thượng tướng (1974), Đại tướng (1980). 

Đại tướng Chu Huy Mân, tấm gương sáng về đức hy sinh, lòng dũng cảm và sáng tạo

Đại tướng Chu Huy Mân, tên khai sinh là Chu Văn Điều, sinh ngày 17-3-1913 tại xã Yên Lưu, Tổng Yên Trường, Phủ Hưng Nguyên (nay là xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An). Trên mảnh đất địa linh, nhân kiệt, giàu truyền thống cách mạng, ngay từ khi còn nhỏ, người thanh niên yêu nước đã sớm tiếp thu truyền thống văn hóa của quê hương và được giác ngộ cách mạng.

Tham gia cao trào cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh 1930 – 1931, là Đội phó Đội Tự vệ Đỏ, đồng chí đã tích cực đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng và được kết nạp Đảng vào tháng 11-1930. Tháng 5-1935, đồng chí đổi tên là Chu Huy Mân với ý nghĩa là “ngọc sáng”.

Xem thêm  Tiểu sử Quang Trung - Nguyễn Huệ

Giai đoạn 1937 – 1942, đồng chí nhiều lần bị địch bắt, tra tấn dã man tại các nhà tù, như: Vinh (Nghệ Tĩnh), Đắc Glei, Đắc Tô (Kon Tum) nhưng vẫn giữ vững khí tiết của một người cộng sản kiên trung; tham gia đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc, biến nhà tù thành trường học cách mạng. Sau khi vượt ngục, đồng chí hoạt động tại Quảng Nam, đã có nhiều đóng góp trong tập hợp lực lượng, củng cố và phát triển phong trào cách mạng. Đặc biệt, trực tiếp tham gia lãnh đạo Tổng khởi nghĩa và thành lập chính quyền tại tỉnh Quảng Nam, góp phần thúc đẩy Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trên toàn quốc.

Tháng 9-1945, người cộng sản kiên trung lúc này gia nhập Quân đội và được phân công làm Chính trị viên Chi đội (Tỉnh đội); sau đó đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng của Quân đội và của Đảng, Nhà nước trên các mặt trận nóng bỏng, ác liệt nhất.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, trên cương vị Trung đoàn trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy các Trung đoàn 72, 74, 174; Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Đại đoàn 316, đồng chí Chu Huy Mân đã lãnh đạo, chỉ huy đơn vị tham gia nhiều chiến dịch lớn, lập nhiều chiến công vẻ vang, góp phần làm nên những chiến thắng, như: Việt Bắc – Thu Đông (1947), Chiến dịch Biên giới (1950), Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)… góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Với tài năng quân sự và nhãn quan chính trị sắc sảo, Đại tướng Chu Huy Mân luôn có những dự đoán và phát hiện những vấn đề nảy sinh trên chiến trường. Ông đã chỉ đạo lực lượng vũ trang tích cực thực hiện phương châm kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đánh địch bằng hai chân, ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược. Đặc biệt, Đại tướng Chu Huy Mân đã có những đóng góp vào nghệ thuật quân sự, đặc biệt là nghệ thuật chiến dịch tổng hợp gồm hai lực lượng: Chính trị (đấu tranh chính trị, binh vận), quân sự (ba thứ quân) là một trong những phát triển sáng tạo, độc đáo, nổi bật của chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Xem thêm  Trần Khánh Dư là ai?
Đại tướng Chu Huy Mân, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước, thăm và làm việc tại Cộng hòa dân chủ Đức, tháng 6-1983.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đại tướng Chu Huy Mân đã cùng tập thể Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 lãnh đạo quân và dân ta lập nên các chiến công vang dội. Tiêu biểu như: Trận Núi Thành, Vạn Tường, Plei Me – Ia Đrăng; xây dựng “vành đai diệt Mỹ”; chỉ đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi các chiến dịch tiến công tổng hợp Ba Gia (1965), Sa Thầy (1966), Tết Mậu Thân (1968), Bắc Bình Định (1972), chiến dịch Huế, Đà Nẵng (1975)…, góp phần cùng quân dân cả nước “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Ngày về mẹ và con trai đã mất

Ngày 5 tháng 5 (âm lịch) năm 1940, trong cái nắng như thiêu đốt của miền Trung, Chu Huy Mân đang phụ mẹ công việc Tết Đoan Ngọ thì ba tên lính lệ bất ngờ kéo đến, mang theo xiềng xích. “Ông Mân, chúng tôi được lệnh bắt ông!”, tiếng quát lạnh lùng không làm ông nao núng. Chu Huy Mân chỉ xin vài phút thay áo, chào mẹ, vợ và bế đứa con trai đầu lòng. Mẹ đứng lặng, nước mắt chảy vào trong; vợ ông đang bầu đứa thứ 2 òa khóc, xin cho chồng ăn bát cơm tiễn biệt nhưng không được chấp nhận.

Xem thêm  Tiểu sử vua Lý Thái Tổ

Khi bị xiềng tay áp giải đi, bà con trong làng lặng lẽ đứng hai bên đường. Có cụ già nghẹn giọng dặn: “Anh cứ đi bình an, ở nhà có chúng tôi lo liệu!”.

Chu Huy Mân bị giam ở Đắc Lay rồi Đắc Tô (Kon Tum). Năm 1943, ông vượt ngục, trở lại hoạt động, tham gia Ban Việt Minh tỉnh và Tỉnh ủy Quảng Nam, sau đó giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy. Dù trải qua tra tấn, tù đày, ý chí cách mạng trong ông càng thêm bền gan son sắt.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Chu Huy Mân vào quân đội, làm Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam, rồi Chủ tịch Ủy ban Quân chính 4 tỉnh Trung Bộ. Khi đồng chí Lê Thiết Hùng – Khu trưởng Khu 4 vào miền Trung nhận nhiệm vụ, ông cho phép Chu Huy Mân về thăm quê sau nhiều năm xa cách.

Trên chuyến tàu mùa đông từ Huế ra Vinh, Chu Huy Mân lặng lẽ nghĩ về mẹ. Một câu hỏi nhói lên: Mẹ còn hay mất? Đến đầu xã Yên Lưu, gặp cháu Chu Văn Tứ, Huy Mân mới hay tin dữ khi nghe Tứ òa lên: “Chú Mân ơi, bà và em Chân mất rồi! Chết đói trước khi ta giành chính quyền…”.

Khi Chu Huy Mân về đến đầu làng, bà con ùa ra vây quanh, vì có tin đồn ông đã hy sinh. Vợ chỉ biết khóc, còn đứa con gái Chu Thị An gần 5 tuổi không nhận ra cha. Suốt đêm, các cụ niên lão thay nhau đến nhà, kể về những năm tháng quê hương vật lộn với đói khát, giặc giã trong thời gian ông vắng bóng.

Bài liên quan

Tiểu sử Trần Hưng Đạo
Trần Hưng Đạo, tên thật là Trần Quốc Tuấn, là...
Tiểu sử Lý Thường Kiệt
Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là một danh tướng,...
Việt Nam thời tiền sử
Việt Nam thời tiền sử bao gồm các giai đoạn...